Trương Tấn Sang » Pháp luật » “Quyền im lặng” thách thức các nhà làm luật!!!

(Pháp luật) - Tuần trước, Quốc hội Việt Nam thảo luận về Dự thảo Bộ luật tố tụng hình sự. Một trong những điểm gây ra “sóng gió nghị trường” là việc đưa quy định về “Quyền im lặng” của bị can, bị cáo vào dự thảo. Vấn đề đang nhận được rất nhiều sự quan tâm và các ý kiến trái chiều khác nhau. Có lẽ “quyền im lặng” đang làm “khó” các nhà làm Luật của nước ta.

Theo Công ước Quốc tế về quyền dân sự và chính trị năm 1968, trong Bộ luật Hình sự và trong Bộ luật Tố tụng hình sự đều có những quy định gián tiếp về “quyền im lặng”.

Cụ thể là trong Công ước Quốc tế về quyền dân sự và chính trị năm 1968, Việt Nam tham gia ngày 24/09/1982 tại điểm g, khoản 3, điều 14 có quy định: “Không bị buộc phải đưa ra lời khai chống lại chính mình hoặc buộc phải nhận là mình có tội”.

Quyền im lặng có được hiểu tương tự như Lời cảnh báo Miranda?

Quyền im lặng có được hiểu tương tự như Lời cảnh báo Miranda?

Trong Bộ luật Hình sự quy định tại khoản 2, điều 3 về việc thành khẩn khai báo thì được hưởng chính sách khoan hồng và được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm p, khoản 1, điều 46. Theo đó, không có nội dung nào quy định việc bị can, bị cáo im lặng, không khai báo là tình tiết tăng nặng ngay cả trong điều 48 của Bộ luật.

Trong Bộ luật Tố tụng hình sự tại điều 10 quy định: “…Trách nhiệm chứng minh tội phạm thuộc về các cơ quan tiến hành tố tụng. Bị can, bị cáo có quyền nhưng không buộc phải chứng minh là mình vô tội.” Tại khoản 2, điều 48 có quy định người bị tạm giữ có quyền “ …trình bày lời khai …”. Tương tự như vậy đối với bị can quy định tai điểm c, khoản 2, điều 49 và bị cáo tại điểm g, khoản 2, điều 50.

Qua các quy định có thể thấy, pháp luật Việt Nam từ lâu đã công nhận việc trình bày lời khai được xác định là quyền của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo; họ trình bày hay không là quyền của họ; pháp luật không xem đó là nghĩa vụ mà các đối tượng này phải chấp hành.

Hơn nữa tại điểm 2 điều 72 của Bộ luật Tố tụng hình sự có quy định “Lời nhận tội của bị can, bị cáo chỉ có thể được coi là chứng cứ nếu phù hợp với các chứng cứ khác của vụ án.” Như vậy không thể dùng lời nhận tội của bị can, bị cáo làm chứng cứ duy nhất để kết tội trước tòa.

Căn cứ vào các Điều luật đã quy định có thể thấy rằng “Quyền im lặng” mặc dù chưa được quy định rõ ràng thành một bộ luật cụ thể song đã gián tiếp được pháp luật cho phép.

Tuy nhiên mỗi bộ luật ra đời ở trong một bối cảnh và thời điểm khác nhau nên tính chính xác và thực tế của sẽ khác biệt nhiều với thời điểm hiện tại. Vì vậy nhà nước ta luôn luôn dựa vào tình hình thực tế và xem xét nguyện vọng của nhân dân để hoàn thiện Bộ Luật.

20150603083824-20150529105307-scales

Việc quy định và thực thi “quyền im lặng” còn cần phải bàn thảo rất nhiều trước khi trở thành Luật chính thức

“Quyền im lặng” ở đây nếu được quy định thì phải hiểu đúng nghĩa và hiểu hết nội hàm của nó. Thứ nhất, “Quyền im lặng ” là quyền được trình bày lời khai. Người bị bắt, bị can, bị cáo thấy cần thiết trình bày lời khai thì họ trình bày, còn họ thấy không cần thiết trình bày khi chưa có sự hiện diện của luật sư của họ thì họ có thể từ chối cho đến khi có luật sư. Trong khoảng thời gian chưa có luật sư, không thể buộc họ phải trình bày lời khai, việc trình bày hay không là quyền của họ. Thứ hai, “Quyền im lặng” thể hiện nghĩa vụ của cảnh sát phải thông báo đầy đủ cho người bị bắt biết họ các quyền như thế theo quy định của Hiến pháp và Luật Tố tụng hình sự.

Phải hiểu rằng “quyền im lặng” của nghi phạm, bị can, bị cáo không có nghĩa là họ cứ… im lặng trong suốt quá trình tố tụng. Họ chỉ có quyền im lặng đến khi có sự xuất hiện của luật sư, sau đó phải tiếp tục hợp tác với cơ quan chức năng để bảo vệ quyền lợi cũng như hoàn thành nghĩa vụ của mình.

Quyền này được hiểu là bất cứ một nghi phạm, nghi can, bị can, bị cáo nào bị thẩm vấn cũng có quyền yêu cầu một luật sư bên cạnh để tránh bức cung, nhục hình, dẫn đến bị kết tội oan, sai. Như vụ án gây chấn động của ông Nguyễn Thanh Chấn hay các vụ án gần đây như vụ Hồ Duy Hải, Lê Bá Mai.

Một số ý kiến đặt ra rằng, nếu đưa “Quyền im lặng của bị can” thành một điều luật rõ ràng thì có thể gây trở ngại, vướng mắc cho mục tiêu chung “Đấu tranh phòng chống tội phạm”? Có thể bị can sẽ dùng quyền này vào mục đích gây khó dễ cho cơ quan điều tra. Đây cũng là vấn đề khó cho cơ quan thực thi pháp luật.

Vấn đề bổ sung “quyền im lặng” thành một điều luật cụ thể là việc nên làm. Nhưng phải quy định thật rõ ràng tránh trường hợp tạo thành lỗ hổng pháp luật và làm khó các cơ quan thi hành pháp luật.

Bất cứ một bộ luật, một điều khoản nào khi ra đời đều được xây dựng từ thực tế đời sống xã hội. Luật ra đời để bảo vệ nhóm người tốt và ngăn cản nhóm người xấu. Hy vọng “quyền im lặng” sẽ không làm đau đầu các nhà làm Luật.

Hạ Băng

Thực hiện “quyền im lặng”, nếu vội vàng có thể phát sinh thêm tội phạm

Thực hiện “quyền im lặng”, nếu vội vàng có thể phát sinh thêm tội phạm

Trên diễn đàn Quốc hội đã có cuộc tranh luận sôi nổi về đề xuất bị can có quyền không khai những gì bất lợi cho mình. Cơ quan điều tra khi tiếp cận người bị bắt cần thông báo...
Quyền im lặng của nghi phạm, gián tiếp có tại Bộ luật tố tụng hình sự

Quyền im lặng của nghi phạm, gián tiếp có tại Bộ luật tố tụng hình sự

Bộ Luật Tố tụng hình sự đã manh nha thể hiện quyền im lặng: Người bị bắt, người bị tạm giữ, tạm giam có quyền được trả lời, chứ không có nghĩa vụ phải trả lời.Thông tin...
Quyền im lặng: Khi cuộc sống không như là phim

Quyền im lặng: Khi cuộc sống không như là phim

Quy định quyền im lặng trong giai đoạn hiện nay là một bước phát triển tự nhiên và cần thiết. Tuy nhiên, cần phải tiến hành xem xét cẩn trọng, cân nhắc cả lý thuyết và thực tiễn. Vì cuộc sống không...
Bài viết, video, hình ảnh đóng góp cho chuyên mục vui lòng gửi về banbientap@truongtansang.net